Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2019

Xem tuổi vợ chồng theo Cổ thư

1. CUNG CHẤN

Chồng Chấn lấy vợ cung Ly (Sanh khí)

Hiệp hôn cang lệ trọn nghi thuỷ chung.
Mạng phú quý, cháu con hùng,
Lớn lên số ắt phước hồng quyền uy!



Chồng Chấn lấy vợ cung Càn (Ngũ quỷ)
Gia đình xáo trộn điêu tàn lửa hương.
Nửa chừng xuân mộng thê lương,
Uyên ương bỏ gánh cang thường từ đây

Chồng Chấn lấy vợ cung Tốn (Phước đức)
Trung niên hậu vận sang giàu hưởng trọn.
Cuộc tình bền vững mặn nồng,
Sanh trai đầu lòng trưởng thành quan lớn!

Chồng Chấn lấy vợ cung Cấn (Lục sát)
Có số phu thê âm thầm tủi hận.
Gia đạo lục đục bất hoà,
Đời sống cơ hàn, con cái lận đận…

Chồng Chấn lấy vợ cung Khôn (Hoạ hại)
Nợ duyên khốn đốn dập dồn oan khiên.
Trong ngoài thân thế đảo điên,
Tai ương tật bệnh dính liền bên lưng!

Chồng Chấn lấy vợ cung Khảm (Thiên y)
Trăm tuổi phu thê nghĩa tình nồng thắm.
Vinh hiển thụ hưởng vững bền,
Rể thảo dâu hiền cả nhà êm ấm…

Chồng Chấn lấy vợ cung Đoài (Tuyệt mạng)
Nợ duyên sau trước thiệt thòi lứa đôi.
Vợ chồng không ở trọn đời,
Cháu con bất lợi cút côi luỵ phiền!

Chồng Chấn lầy vợ cung Chấn (phục vị)
Trong tình duyên nợ tiền hậu như nhứt.
Có số no ấm cả đời,
Gia đạo yên vui trên hoà dưới thuận!

2. CUNG LY

Chồng Ly lấy vợ cung Chấn (Sanh khí)
Ý hợp tâm đầu làm nên gia thất.
Trọn đời nhàn hạ phong lưu,
Trung niên hậu vận thành công mọi mặt.

Chồng Ly lấy vợ cung Đoài (Ngũ quỷ)
Bạc tiền bạo phát, nhưng hoài công lao;
Nửa đời căn kiếp ba đào,
Cửa nhà điền sản tiêu hao không còn!

Chồng Ly lấy vợ cung Khảm (Phước đức)
Được số hiển đạt phu vinh thê ấm.
Tình yêu hương lửa mặn nồng,
Tương lai con cái trưởng thành khoa bảng.

Chồng Ly lấy vợ cung Khôn (Lục sát)
Kiết hung luân chuyển dập dồn âu lo.
Trai sa đọa gái lẳng lơ,
Trước sau rồi cũng hững hờ nợ duyên…

Chồng Ly lấy vợ cung Cấn (Hoạ hại)
Tiền hậu phu thê thuỷ chung bất nhứt;
Sống đời tật ách đeo mang,
Vợ chồng đa đoan thiệt thòi thân phận!

Chồng Ly lấy vợ cung Tốn (Thiên y)
Căn mạng nợ duyên trời cho yên ổn!
Cả đời ấm cúng giàu sang,
Con cái gái trai vẹn toàn căn bổn…

Chồng Ly lấy vợ cung Càn (Tuyệt mạng)
Nợ duyên gãy gánh giữa đàng thảm thương!
Cho hay cái số đoạn trường,
Lụy phiền ly tán bất tường phu thê!

Chồng Ly lấy vợ cung Ly (Phục vị)
Ái tình hương lửa trọn nghì thuỷ chung.
Bạc tiền giàu có bậc trung,
Thân danh hậu vận lãy lừng tiếng thơm!

3. CUNG TỐN

Chồng Tốn lấy vợ cung Khảm (Sanh khí)
Tiền định phu thê hiệp vầy duyên thắm.
Lộc tài phát vượng huy hoàng,
Con cái lớn lên sống đời nhung gấm…

Chồng Tốn lấy vợ cung Khôn (Ngũ quỷ)
Sanh cơ khốn đốn bôn chôn cũng hoài!
Nợ duyên vốn đã an bài,
Trung niên ắt phải đổi thay cuộc tình…

Chồng Tốn lấy vợ cung Chấn (Phước đức)
Được số phú quý trọn đời an phận.
Bạc tiền điền sản thặng dư,
Duyên nợ vợ chồng trăm năm viên mãn!

Chồng Tốn lấy vợ cung Đoài (Lục sát)
Hiệp hôn đã thấy đeo đai khổ phiền.
Cửa nhà sa sút ngửa nghiêng,
Gây điều đổi nợ thay duyên phũ phàng.

Chồng Tốn lấy vợ cung Càn (Hoạ hại)
Yêu đương tác hợp buồn than đêm ngày.
Triền miên tai ách không hay,
Nợ duyên sầu muộn đắng cay cuộc đời.

Chồng Tốn lấy vợ cung Ly (Thiên y)
Mạng trường thân thế ai bì được đâu.
Uy quyền tiền bạc bền lâu,
Nợ duyên hạnh hưởng sang giàu trăm năm.

Chồng Tốn lấy vợ cung Cấn (Tuyệt mạng)
Chưa chung gối chăn ái tình thoả mãn.
Số goá lẻ mạng khó toàn,
Duyên nợ đôi đàng rã rời ân hận!

Chồng Tốn lấy vợ cung Tốn (Phục vị)
Bình thường đời sống thân danh tốt…
Ba sinh duyên đẹp tình nồng,
Sự nghiệp tử tôn tấn tài vượng lộc!

4. CUNG KHẢM

Chồng Khảm lấy vợ cung Tốn (Sanh khí)
Mạng thọ duyên bền sống vui an ổn,
Số không sang nhưng no lành,
Gia đạo thuận hoà và con cái tốt…

Chồng Khảm lấy vợ cung Cấn (Ngũ quỷ)
Giàu có mấy lần hồi cũng phá sản!
Duyên nợ ắt phải lỡ làng,
Con cái lớn lên đàn điếm du đãng…

Chồng Khảm lấy vợ cung Ly (Phước đức)
Thuỷ chung như nhứt ai bì phong lưu!
Vợ chồng có số sang giàu,
Hưởng của phụ ấm trước sau an nhàn…

Chồng Khảm lấy vợ cung Càn (Lục sát)
Tang thương từ thuở hai đàng hiệp hôn.
Buồn cho duyên nợ long đong,
Bất hoà tâm lý vợ chồng đảo điên…

Chồng Khảm lấy vợ cung Đoài (Hoạ hại)
Ấm êm bỗng chốc ách tai buộc ràng.
Số phần chồng vợ đeo mang,
Suốt đời khổ hận sầu than đêm ngày!

Chồng Khảm lấy vợ cung Chấn (Thiên y)
Quan lộc uy quyền đời sống sung mãn
Thế vinh tử quý rõ ràng,
Duyên nợ vợ chồng da mồi tóc bạc…

Chồng Khảm lấy vợ cung Khôn (Tuyệt mạng)
Lo âu mắc phải dập dồn ốm đau.
Tiền bạc hết biệt ly sầu,
Không chồng thì vợ cũng vào cõi âm

Chồng Khảm lầy vợ cung Khảm (Phục vị)
Bình thường cuộc sống nợ duyên êm thấm.
Gia đạo tiền định an bài,
Một đời keo sơn áo cơm no ấm!

5.CUNG ĐOÀI

Chồng Đoài lấy vợ cung Càn (sanh khí)
Hôn nhân bền vững lộc quan vượng tài.
Sanh cơ vốn một lời hai,
Lầu cao cửa rộng gái trai ngoan hiền…

Chồng Đoài lấy vợ cung Ly (ngũ quỷ)
Cố công cho mấy ra gì kiếp sanh!
Nợ duyên như sợi chỉ mành,
Thân danh sự nghiệp bất thành không sai!

Chồng Đoài lấy vợ cung Cấn (phước đức)
Phụ ấm sẵn dành bề tài lợi tấn.
Gia đạo thê tử ấm êm,
Duyên nợ trọn đời lửa hương nồng thắm…

Chồng Đoài lấy vợ cung Tốn (lục sát)
Xáo trộn gia đình sanh cơ khốn đốn.
Con cái lớn nhỏ bất tường,
Tình nghĩa lạt phai lăng loàn hỗn độn!

Chông Đoài lấy vợ cung Khảm (hoạ hại)
Tai ương tật ách dồn dập thê thảm!
Nửa đời thân phận sanh ly,
Phu thê lâm vòng trái ngang lãnh đạm…

Chồng Đoài lấy vợ cung Khôn (thiên y)
Một đàn thê tử vuông tròn giàu sang!
Gia đình sau trước huy hoàng.
Trung niên hậu vận rõ ràng nghiệp danh.

Chông Đoài lấy vợ cung Chấn (tuyệt mạng)
Chăn gối ái tình khó yên thân phận.
Bổng luỵ phiền duyên dợ lìa tan,
Cấm bằng căn kiếp đa truân lận đận!

Chồng Đoài lấy vợ cung Đoài (phục vị)
Bình thường thì cũng tiền tài bậc trung;
Gia đình thân mạng thung dung,
Trưởng thành con cháu đẹp lòng mẹ cha!

6. CUNG KHÔN

Chồng Khôn lấy vợ cung Cấn (sanh khí)
Sanh cơ mọi bề thời hưng phấn chấn.
Gia đạo sau trước thuận hoà,
Thừa thãi trong ngoài ruộng vườn điền sản…

Chồng Khôn lấy vợ cung Tốn (ngũ quỷ)
Cuộc đời chật vật số cực thiếu thốn.
Duyên nợ lận đận nghịch thường,
Con cái bất hoà lớn lên cùng khốn!

Chồng Khôn lấy vợ cung Càn (phước đức)
Hay duyên phải nợ tiền căn định phần;
Bổn mạng lại có quý nhân,
Được số phú quý vinh thân an nhàn…

Chồng Khôn lấy vợ cung Ly (lục sát)
Nợ duyên ắt chịu sầu bi th.á.n.g ngày.
Đa truân hộ luỵ nạn tai,
Căn định lục hại tương lai mơ hồ!

Chồng Khôn lấy vợ cung Chấn (hoạ hại)
Không hình ngục thì cũng bị bịnh tật;
Duyên nợ lắm vấp khổ buồn,
Đời sống lầm than sinh cơ chật vật…

Chồng Khôn lấy vợ cung Đoài (thiên y)
Mạng tường hưởng thọ lộc tài dài lâu.
Con trai hiển đạt công hầu,
Gái hiền rể thảo trước sau toại lòng

Chông Khôn lấy vợ cung Khảm (tuyệt mạng)
Căn phần nợ duyên chuốc lấy sầu thảm!
Số phải dở dang nửa đời,
Chồng vợ hai người đổi dời ly tán!

Chồng Khôn lấy vợ cung Khôn (phục vị)
Keo sơn gắn bó cháu con vẹn toàn.
Trung niên mấy lượt thăng trầm,
Hậu vận phú quý trăm phần phong lưu!

7. CUNG CÀN

Chồng cung Càn lấy vợ cung Đoài (Sanh khí)
Ấm êm gia đạo trong ngoài êm vui
Nợ duyên gắn bó trọn đời,
Thê vinh tứ quí số người giàu sang.

Chồng Càn lấy vợ cung Chấn (Ngũ Qủy)
Trước sau bất tường nợ duyên lận đận.
Tâm lý chồng vợ không hoà,
Khiến nên sinh kế quanh năm túng quẩn

Chồng càn lấy vợ cung Khôn (Phước đức)
Được soó phước đức trường tồn ấm no.
Lộc tài như nước tràn vô,
Cửa nhà đồ sộ quy mô ruộng vườn

Chồng Càn lấy vợ cung Khảm (Lục sát)
Lục sát phạm ắt phu thê buồn thảm!
Kim cải dở dang nửa đời,
Duyên nợ đổi dời tương tư ly tán

Chồng Càn lấy vợ cung Tốn (Hoạ hại)
Trước hợp sau lìa vô cùng khốn đốn!
Con cái trưởng thành cút côi,
Hình ngục oan khiên vợ chồng thương tổn

Chồng Càn lấy vợ cung Cấn (Thiên y)
May mắn cuộc đời vượng tài phấn chấn.
Tình yêu lửa đượm hương nồng…
Rể thảo, dâu hiền an nhàn hậu vận

Chồng Càn lấy vợ cung Ly (Tuyệt mạng)
Nợ duyên cầm chắc sầu bi khóc thầm!
Ái ân lỡ nhịp sắc cầm,
Mới hay căn kiếp số phần hẩm hiu!

Chồng Càn lấy vợ cung Càn (Phục vị)
Bậc trung được số giàu sang tuổi già.
Vợ chồng bạch thủ thanh gia,
Trung niên gây dựng cửa nhà yên vui…

8. CUNG CẤN

Chồng Cấn lấy vợ cung Khảm (ngũ quỷ)
Duyên nợ nửa đời chuốc nhiều ảm đạm.
Số ắt dời đổi hai lần,
Nếu không thì phải lâm vòng hoạn nạn

Chồng Cấn lấy vợ cung Khôn (sanh khí)
Sống đời loan phụng phước tồn hậu lai.
Quan lộc có hưởng hoạch tài,
Nhà cao cửa rộng quyền oai vô cùn

Chồng Cấn lấy vợ cung Đoài (phước đức)
Đẹp duyên cá nước tiền tài vượng hưng.
Số nầy thời vận đáng mừng,
Hào con hào của bậc trung thanh nhàn…

Chồng Cấn lấy vợ cung Chấn (lục sát)
Sản nghiệp sẵn sàng lần hồi tẩu tán.
Phu phụ tâm lý nghịch thường,
Sau trước hạnh phúc gia đình hư nát!

Chồng Cấn lầy vợ cung Ly (hoạ hại)
Bất tường tai ách sầu bi gia đình!
Yêu đương một tấm chân tình,
Cũng chưa được đôi mình sánh đôi…

Chồng Cấn lấy vợ cung Càn (thiên y)
Phu thê dẫu có nghèo nàn không lo.
Trung niên được tuổi trời cho
Hậu vận sung mãn quy mô ruộng vườn.

Chồng Cấn lấy vợ cung Tốn (tuyệt mạng)
Căn phần khó tránh tóc tang thương tổn.
Trong hai chắc mất một người,
Tử biệt đừng hòng tìm phương chạy chốn!

Chồng Cấn lấy vợ cung Cấn (phục vị)
Số được vui hưởng thê hoà phu thuận
Phong lưu nhàn hạ bậc trung
Một đời ái tình nợ duyên an phận…

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

Nhà thờ Họ Quách 21-5-Kỷ Hợi - 2019



"Vừng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ
Đức tổ tông muôn thuở sáng ngời
ngẩng trông phúc ấm nối đời
"Tế thần Thần tại", ngự nơi từ đường
Để con cháu lửa hương phụng sự
Nghìn năm sau xuân tự thu thường..."

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Mạn đàm về câu "Tam nam bất phú, tứ nữ bất bần"


Sưu tầm tác giả: Đặng Xuân Xuyến – Hà Nội

Mạn đàm về: Tam nam bất phú

Ngạn ngữ người Việt có câu: “Tam nam bất phú - Tứ nữ bất bần”
Hiểu đơn giản: Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.
Lý do:
Con trai thường hay lêu lổng, không chí thú làm ăn, cha mẹ lại phải chi phí những việc lớn cho các “quý tử” như: Học hành, cưới vợ, làm nhà... nên tốn hết tiền bạc của cha mẹ đã kiến tạo, vì thế mới nghèo.
Con gái thường chịu thương chịu khó, cha mẹ không phải chi phí các việc lớn như gia đình có con trai nên tiền của tích góp được mà trở nên giàu. (Ngày xưa con gái không được đi học, khi lấy chồng thì cơ bản gia đình chồng lo cho đám cưới (thông qua thách cưới của họ nhà gái)

Đấy là hiểu đơn giản là sinh nhiều (3) con trai sẽ nghèo nhưng theo thiển nghĩ của tôi thì cổ nhân chỉ mượn câu “tam nam bất phú” để ám chỉ điều “huyền bí và tối kỵ” của con số 3 huyền cơ trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nếu không đã không có câu “Tứ tử trình làng” để nói về sự vinh hoa phú quý của một gia đình khi sinh được bốn người con trai (?). Ngay trong câu “Tam nam bất phú / Tứ nữ bất bần” đã là một đôi câu đối hoàn chỉnh về sự huyền bí (sinh, tử, sang, hèn...) của các con số 3 và 4 trong tín điều của người Việt. Rất tiếc, tôi mò mẫm mà đoán vậy, chứ trình độ và sự hiểu biết của tôi chỉ a bờ tờ nên không thể hiểu để lý giải được ẩn ý của người xưa khi nhắc tới con số 3 trong “tam nam bất phú”, vì thế mới giãi bày lên đây để mong nhận được sự chỉ giáo quý báu của quý vị.
Trở lại với câu ngạn ngữ: Tam nam bất phú / Tứ nữ bât bần xem thực tế (chỉ có 3 trai hoặc 4 gái) có phải vậy không?
Thật sự rất khó đưa ra câu trả lời vì nếp sống bao đời của người Việt về đường con cái là phải “có nếp có tẻ”, phải có “thằng cu nối dõi” nên sẽ rất hiếm trường hợp nhà “chỉ có 3 thằng con trai” hoặc “chỉ có 4 đứa con gái”. Vì thế , “đối tượng” tra cứu cần được mở rộng: Nhà có 3 anh em trai + 1, 2 chị (em) gái và nhà có 4 chị em gái + 1, 2 anh (em) trai.
Vậy trong trường hợp: 3 TRAI + 1, 2 GÁI thì lời đúc kết của cổ nhân có đúng thế không?
Xin thưa: Không phải vậy! Thực tế, nhiều gia đình sinh 3 con trai mà kinh tế (bố mẹ) vẫn thuộc diện khá giả, có gia đình còn thuộc diện giàu “nứt đố đổ vách”, “tư sản hiện đại”. Sự giàu có đó còn kéo dài đến tận đời con, đời cháu sau này...
Vậy nên hiểu câu: “Tam nam bất phú” như thế nào? Theo thiển ý của người viết, chữ phú ở đây không nên hiểu theo nghĩa chỉ sự giàu có mà hiểu theo nghĩa chỉ sự phú quý thì mới thấy được “ẩn ý” mà cổ nhân đúc kết.
Qua kiểm chứng những gia đình có 3 anh em trai (chỉ 3 anh em trai rất hiếm gặp, mà cơ bản có thêm chị em gái) tôi thấy thường sảy ra (ít nhất là 2/3) các tình huống:
  1. Bất hòa trong gia đình, kể cả sau này khi 3 anh em trai đã yên bề gia thất.
  2. Tai họa sảy ra cho 1 trong 3 người con trai: Nặng thì có người chết sớm (thường là chết trẻ, chưa có con cái), nhẹ thì bị tàn tật như thối tai, què chân hoặc những chứng bệnh nan y khó chữa..
  3. Đường hôn nhân của 1 trong 3 anh em trai gặp phải trắc trở, thiếu may mắn, không được trọn vẹn.
Có lẽ, đây mới là điều mà cổ nhân đúc kết: Nhà có 3 anh em trai thì khó có được sự phú quý, phúc thọ.
Tôi đã vào google để tra cứu những “liên quan” về câu ngạn ngữ TAM NAM BẤT PHÚ nhưng rất tiếc, kể cả làm thế nào để cải “tam nam bất phú” cũng không tìm được nên đành mạo muội đưa ra đề xuất như sau:
  1. Ba anh em trai nên sống xa nhau (về khoảng cách địa lý), càng xa càng tốt.
  2. Bố mẹ nên nhận một người con trai làm nghĩa tử, hoặc nếu bố mẹ khuất bóng rồi thì ba anh em cùng nhận thêm một anh hoặc em trai kết nghĩa.
  3. Nên làm con nuôi dòng họ khác (gia đình nghĩa phụ phải có con trai) để tránh cảnh huynh đệ tương tàn và đem lại may mắn cho bản thân.
  4. Lấy đức để cải số.
Vài dòng tản mạn về câu thành ngữ: TAM NAM BẤT PHÚ, hy vọng sẽ nhận được chỉ giáo của mọi người để câu thành ngữ TAM NAM BẤT PHÚ không còn là nỗi ám ảnh, hãi sợ của nhân gian..
***
Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Ôn lại kỷ niệm gia đình

Chuẩn bị cho ngày mai làm lễ thất thất lai tuần (49 ngày) cho bố tôi. Đêm nay chị em con cháu người nằm giường, người nằm ghế, số còn lại dải chiếu nằm nền nhà. Các câu chuyện của gia đình từ những năm 1965 trở lại đây bắt đầu được ôn lại.
Bắt đầu là chị cả Lưu kể những kỷ niệm với Mẹ. Chuyện đi củi thuyền ban đêm từ 2 giờ sáng, hai mẹ con một thuyền chèo lên tới gần giáp ranh giữa tỉnh hòa bình và ninh bình cách nhà khoảng 7 km đường thủy. Nước lụt ngập mênh mông hai mẹ con bị lệch hướng lên cánh nghĩa địa. Cả hai mẹ con đều sợ nhưng mẹ Thám sốc lại tinh thần cho cả hai mẹ con đó là vừa chèo thuyền bằng chân vừa ngâm thơ Tố Hữu, rồi hát chèo.... sau đó hai mẹ con nhìn xem chỗ nào có ánh đèn dầu thì chèo tới. Nhưng 3-4 giờ sáng thì thuyền chài cũng tắt đèn đi ngủ hết. Loanh quanh đến gần sáng thì cũng phát hiện ra hướng đi của mình. Chị cả nói lúc đó chị hơn 10 tuổi, cũng rất sợ nhưng đành phải liều. May mà bấy giờ những năm 70 chưa có mộ xây như bây giờ, nếu không thuyền của hai mẹ con chắc chắn xô vào mộ thủng và đắm. Thời đó dân làng tôi có phong trào đi củi thuyền khi mùa lũ đến. Chỗ kiếm củi cách nhà từ 10-20km đường thủy, vì thế phải đi từ 2-3 giờ sáng thì tối mới về đến nhà.
Tiếp sau đó là các câu chuyện của chị hai, của tôi, rồi của cô út. Nhiều lúc chị em và các cháu cười phá lên, song cũng có lúc tự nhiên im bặt rồi chỗ này chị cả, chị hai sụt sịt chỗ kia cô út nằm trên ghế nghẹn ngào. Nước mắt tôi cứ chảy hết dòng này đến dòng khác.
Tôi cũng đóng góp hai mẩu chuyện với mẹ.
 Câu chuyện thứ nhất là bốc phân trâu trên đường cái cho mẹ trồng khoai. Đó là lúc tôi chừng 8-10 tuổi, hai mẹ con đi trồng khoai lang ở mảnh ruộng "cột km" đó là cột mốc km báo tt Nho Quan 5km cạnh đường 477 bây giờ cách nhà 1 km. Đang trồng thì hết phân chuồng, nếu để mẹ về gánh thì lên đến nơi rất là muộn, vì thế tôi bảo mẹ để con đi kiếm phân cho. Thế là tôi quẩy quang gánh lên đường cái để cho nhanh tôi lấy hai tay bốc những bãi phân trâu. Có những bãi trâu vừa thải ra còn đang nóng hổi, có những bãi lâu ngày đã có ròi, bọ tôi bốc tất. Thời bấy giờ khách đi đường chỉ toàn có người đi xe đạp, họ thấy tôi làm việc trên ai cũng khen sao có thằng bé chịu khó thế. Đó là một trong những việc thể hiện lúc còn bé tôi là một thằng bé rất nhanh nhẹn, dễ sai. Bà Nội gọi tôi là thằng "nhẹ mũi", Bà ví như con nghé dễ dắt.
Câu chuyện thứ hai: Lúc còn bé 3 anh em trai hay trêu chọc nhau, đánh nhau. Một hôm trêu nhau trò đánh rắm rồi bốc bỏ mũi nhau, sau đó đùa quá chớn dẫn đến đánh chửi nhau. Bố bắt 3 anh em nằm sấp xuống nền nhà, Bố cầm cái roi rất to rồi hò hét, lượn qua lượn lại rất lâu cuối cùng mới vụt mỗi con một roi thật đau. Về sau mẹ kể lại là mẹ đứng ngoài cười vì biết tính bố.
Tôi có rất nhiều kỷ niệm với Bố, vì sau khi Bố về hưu 1982 bố con dở nghề thả đó tôm ngoài sông, tối đến phải ngủ thuyền trên sông để coi đó. Vui có buồn có. Những lúc trăng thanh gió mát thì thật là thích, nhưng những đêm mưa gió, rét mướt thì thật là khổ. Nhớ nhất là trận mưa đầu mùa ngày 17/3/âm lịch khoảng năm 1985  -1988 , hôm đó trời sấm sét, mưa rất to và lâu. Hai bố con sốt ruột lo lắng vì sợ sét và sợ nước nhiều quá đắm thuyền, cứ thỉnh thoảng lại dậy tát nước thuyền. Ngày thường hai bố con tâm sự rất nhiều chuyện trên đời. Những kỷ niệm đó đối với tôi thật vô cùng quý giá.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Danh sách các cụ đã mất (4 dời)

STT Họ và tên Năm sinh NS Âm lịch Mộ phần táng tại Ghi chú
1 Cụ cố ông: Quách Văn Nhu 1850 - 1860 Không rõ Mả ong Sinh khoảng: 1860
2 Cụ cố bà: Lê Thị Trọng Khoảng: 1860 Không rõ Đồng Trên không rõ mộ phần
3 Cụ ông: Quách Văn Mưu 1899 Kỷ Hợi Đồng Trên  
4 Cụ bà cả: Lưu Thị Kiệm Khoảng 1900 Không rõ Đồng Trên  
5 Cụ bà hai: Lý Thị Mùng 1905 Ất Tỵ Đồng Trên  
6 Cụ bà: Quách Thị Xương 1875-1880 Không rõ Đồng Trên  
7 Ông : Quách Văn Tạ 1934 Giáp Tuất Đồi Đất  
8 Bà: Đỗ Thị Thám 1935 Ất Hợi Mả Đào  
Tổng số:  8 cụ
Đức Long, ngày 01/5/2017
NGƯỜI LẬP DANH SÁCH
     Quách Văn Nguyện

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Thơ học trò cũ viếng bố


Người ta ví:  Thầy giáo là người chở đò còn học trò là khách.
Thế là Thầy đã đi rồi
Con đò để mặc dòng đời mênh mang
Thời gian cuồn cuộn thời gian
Cứ chào chào mãi có màng gì đâu
Học trò lớp trước lớp sau
Từ một lớp cứ nối nhau qua đò
Thời gian cứ chảy bơ phờ
Con đò Thầy vẫn đón đưa hàng ngày
Công cha nghĩa mẹ ơn Thầy
Chúng con tạc dạ không ngày nào quên
Chắc rằng trên cõi mênh mang
Cụ Quýnh đang thết rượu ông với trò

16h ngày 7 tháng 4 năm Đinh Dậu
Vũ Hữu Đích
Học trò lớp 2 -Đinh Phú Nhiêu  - 1958
Có vài lời tiễn Thầy giáo cũ.


                             Các ông: Trần Văn Chiêm, Vũ Hữu Đích, Lê Văn Thái học trò lớp 2 của Bố từ năm 1958 tại Đình Phú Nhiêu đọc thơ viếng Thầy giáo cũ.



Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Lâm Giang Tiên - Tam Quốc Diễn Nghĩa

Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông 
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng 
Thịnh suy, thành bại theo dòng nước 
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không 
Núi xanh nguyên vẹn cũ 
Bao độ ánh chiều hồng 
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi 
Vốn đã quen gió mát trăng trong 
Một vò rượu nếp vui bạn cũ 
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng.


Bài thơ hay quá!