Chuẩn bị cho ngày mai làm lễ thất thất lai tuần (49 ngày) cho bố tôi. Đêm nay chị em con cháu người nằm giường, người nằm ghế, số còn lại dải chiếu nằm nền nhà. Các câu chuyện của gia đình từ những năm 1965 trở lại đây bắt đầu được ôn lại.
Bắt đầu là chị cả Lưu kể những kỷ niệm với Mẹ. Chuyện đi củi thuyền ban đêm từ 2 giờ sáng, hai mẹ con một thuyền chèo lên tới gần giáp ranh giữa tỉnh hòa bình và ninh bình cách nhà khoảng 7 km đường thủy. Nước lụt ngập mênh mông hai mẹ con bị lệch hướng lên cánh nghĩa địa. Cả hai mẹ con đều sợ nhưng mẹ Thám sốc lại tinh thần cho cả hai mẹ con đó là vừa chèo thuyền bằng chân vừa ngâm thơ Tố Hữu, rồi hát chèo.... sau đó hai mẹ con nhìn xem chỗ nào có ánh đèn dầu thì chèo tới. Nhưng 3-4 giờ sáng thì thuyền chài cũng tắt đèn đi ngủ hết. Loanh quanh đến gần sáng thì cũng phát hiện ra hướng đi của mình. Chị cả nói lúc đó chị hơn 10 tuổi, cũng rất sợ nhưng đành phải liều. May mà bấy giờ những năm 70 chưa có mộ xây như bây giờ, nếu không thuyền của hai mẹ con chắc chắn xô vào mộ thủng và đắm. Thời đó dân làng tôi có phong trào đi củi thuyền khi mùa lũ đến. Chỗ kiếm củi cách nhà từ 10-20km đường thủy, vì thế phải đi từ 2-3 giờ sáng thì tối mới về đến nhà.
Tiếp sau đó là các câu chuyện của chị hai, của tôi, rồi của cô út. Nhiều lúc chị em và các cháu cười phá lên, song cũng có lúc tự nhiên im bặt rồi chỗ này chị cả, chị hai sụt sịt chỗ kia cô út nằm trên ghế nghẹn ngào. Nước mắt tôi cứ chảy hết dòng này đến dòng khác.
Tôi cũng đóng góp hai mẩu chuyện với mẹ.
Câu chuyện thứ nhất là bốc phân trâu trên đường cái cho mẹ trồng khoai. Đó là lúc tôi chừng 8-10 tuổi, hai mẹ con đi trồng khoai lang ở mảnh ruộng "cột km" đó là cột mốc km báo tt Nho Quan 5km cạnh đường 477 bây giờ cách nhà 1 km. Đang trồng thì hết phân chuồng, nếu để mẹ về gánh thì lên đến nơi rất là muộn, vì thế tôi bảo mẹ để con đi kiếm phân cho. Thế là tôi quẩy quang gánh lên đường cái để cho nhanh tôi lấy hai tay bốc những bãi phân trâu. Có những bãi trâu vừa thải ra còn đang nóng hổi, có những bãi lâu ngày đã có ròi, bọ tôi bốc tất. Thời bấy giờ khách đi đường chỉ toàn có người đi xe đạp, họ thấy tôi làm việc trên ai cũng khen sao có thằng bé chịu khó thế. Đó là một trong những việc thể hiện lúc còn bé tôi là một thằng bé rất nhanh nhẹn, dễ sai. Bà Nội gọi tôi là thằng "nhẹ mũi", Bà ví như con nghé dễ dắt.
Câu chuyện thứ hai: Lúc còn bé 3 anh em trai hay trêu chọc nhau, đánh nhau. Một hôm trêu nhau trò đánh rắm rồi bốc bỏ mũi nhau, sau đó đùa quá chớn dẫn đến đánh chửi nhau. Bố bắt 3 anh em nằm sấp xuống nền nhà, Bố cầm cái roi rất to rồi hò hét, lượn qua lượn lại rất lâu cuối cùng mới vụt mỗi con một roi thật đau. Về sau mẹ kể lại là mẹ đứng ngoài cười vì biết tính bố.
Tôi có rất nhiều kỷ niệm với Bố, vì sau khi Bố về hưu 1982 bố con dở nghề thả đó tôm ngoài sông, tối đến phải ngủ thuyền trên sông để coi đó. Vui có buồn có. Những lúc trăng thanh gió mát thì thật là thích, nhưng những đêm mưa gió, rét mướt thì thật là khổ. Nhớ nhất là trận mưa đầu mùa ngày 17/3/âm lịch khoảng năm 1985 -1988 , hôm đó trời sấm sét, mưa rất to và lâu. Hai bố con sốt ruột lo lắng vì sợ sét và sợ nước nhiều quá đắm thuyền, cứ thỉnh thoảng lại dậy tát nước thuyền. Ngày thường hai bố con tâm sự rất nhiều chuyện trên đời. Những kỷ niệm đó đối với tôi thật vô cùng quý giá.
Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017
Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017
Danh sách các cụ đã mất (4 dời)
| STT | Họ và tên | Năm sinh | NS Âm lịch | Mộ phần táng tại | Ghi chú |
| 1 | Cụ cố ông: Quách Văn Nhu | 1850 - 1860 | Không rõ | Mả ong | Sinh khoảng: 1860 |
| 2 | Cụ cố bà: Lê Thị Trọng | Khoảng: 1860 | Không rõ | Đồng Trên | không rõ mộ phần |
| 3 | Cụ ông: Quách Văn Mưu | 1899 | Kỷ Hợi | Đồng Trên | |
| 4 | Cụ bà cả: Lưu Thị Kiệm | Khoảng 1900 | Không rõ | Đồng Trên | |
| 5 | Cụ bà hai: Lý Thị Mùng | 1905 | Ất Tỵ | Đồng Trên | |
| 6 | Cụ bà: Quách Thị Xương | 1875-1880 | Không rõ | Đồng Trên | |
| 7 | Ông : Quách Văn Tạ | 1934 | Giáp Tuất | Đồi Đất | |
| 8 | Bà: Đỗ Thị Thám | 1935 | Ất Hợi | Mả Đào | |
| Tổng số: | 8 cụ | ||||
| Đức Long, ngày 01/5/2017 | |||||
| NGƯỜI LẬP DANH SÁCH | |||||
| Quách Văn Nguyện | |||||
Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017
Thơ học trò cũ viếng bố
Người ta ví: Thầy giáo là người chở đò còn học trò là khách.
Thế là Thầy đã đi rồi
Con đò để mặc dòng đời mênh mang
Thời gian cuồn cuộn thời gian
Cứ chào chào mãi có màng gì đâu
Học trò lớp trước lớp sau
Từ một lớp cứ nối nhau qua đò
Thời gian cứ chảy bơ phờ
Con đò Thầy vẫn đón đưa hàng ngày
Công cha nghĩa mẹ ơn Thầy
Chúng con tạc dạ không ngày nào quên
Chắc rằng trên cõi mênh mang
Cụ Quýnh đang thết rượu ông với trò
16h ngày 7 tháng 4 năm Đinh Dậu
Vũ Hữu Đích
Học trò lớp 2 -Đinh Phú Nhiêu - 1958
Có vài lời tiễn Thầy giáo cũ.
Các ông: Trần Văn Chiêm, Vũ Hữu Đích, Lê Văn Thái học trò lớp 2 của Bố từ năm 1958 tại Đình Phú Nhiêu đọc thơ viếng Thầy giáo cũ.
Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017
Lâm Giang Tiên - Tam Quốc Diễn Nghĩa
Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
Thịnh suy, thành bại theo dòng nước
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không
Núi xanh nguyên vẹn cũ
Bao độ ánh chiều hồng
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi
Vốn đã quen gió mát trăng trong
Một vò rượu nếp vui bạn cũ
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng.
Bài thơ hay quá!
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
Thịnh suy, thành bại theo dòng nước
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không
Núi xanh nguyên vẹn cũ
Bao độ ánh chiều hồng
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi
Vốn đã quen gió mát trăng trong
Một vò rượu nếp vui bạn cũ
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng.
Bài thơ hay quá!
Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017
Thơ Xuân 2017
MẸ!
Mỗi năm tết đến xuân về
Mỗi năm tết đến xuân về
Ngậm ngùi nhớ Mẹ đã về bên kia
Mẹ tôi - Người Mẹ kính yêu
Lam lũ vất vả ruộng đồng sớm hôm
Bèo rau, cám bã, tép tôm
Nấu rượu, nuôi lợn ôm am đủ điều
Bom Mỹ - vớt cá quá liều (1)
Thuốc sâu chưa hết - đã liều lội ngay
(2)
Đồng cao, đồng trũng, Mẹ hay
Chỗ nào hoang hoá ra tay cuốc cào
Rau, cà, khoai, sắn bốn mùa
Nhon bòn chắt bóp mệt nhoài vẫn tham
Tất cả dành hết chồng con
Chồng công tác tốt, con ngoan học
hành
Đến khi con chớm trưởng thành
Mẹ mang bệnh tật rồi thời quy tiên
Ơn mẹ nước biển mênh mông
Con luôn ghi nhớ, in sâu trong lòng./.
Đức Long, 23h30’ ngày 3/2/2017
Quách Văn Nguyện
Chú giải:
Bài thơ tôi viết về Mẹ tôi là Đỗ Thị Thám với tất cả tấm lòng thành kính về Mẹ
Mẹ tôi Sinh năm 1935 tại thôn Bồ Đình, xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tạ thế: 19.4.2001.
Bài thơ tôi gửi tham gia dự thi hội thơ xuân ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh Ninh Bình năm 2017.
Mẹ tôi Sinh năm 1935 tại thôn Bồ Đình, xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tạ thế: 19.4.2001.
Bài thơ tôi gửi tham gia dự thi hội thơ xuân ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh Ninh Bình năm 2017.
(1) Vào cuối năm 1971 Đế Quốc Mỹ đem bom bắn phá
Miền Bắc trong đó có Cầu Đế gần nhà tôi. Cá ở dưới sông chết bom nổi rất nhiều.
Mẹ tôi lúc đó đang mang thai tôi mặc dù tất cả dân làng không ai dám ra vớt cá
thì chỉ có mình mẹ tôi với chiếc thuyền câu bé lao ra vớt cá trong giữa hai
loạt bom của Mỹ. Sau này dân làng nói mẹ tôi là người liều nhất làng. Khi tôi
lớn tôi hỏi mẹ thì mẹ bảo do mẹ ở gần cầu Đế chỗ Mỹ hay ném bom nên nắm được rõ
quy luật giữa hai loạt bom của máy bay Mỹ thì mẹ mới dám liều như vậy.
(2) Ruộng lúa vừa phun thuốc sâu xong đáng lẽ
phải để một thời gian nhất định rồi mới được lội xuống làm cỏ lúa. Nhưng mẹ tôi
một phần do coi thường là có sức khoẻ, phần nữa là do sốt sắng với công việc
nên vẫn lội xuống ruộng ngay để làm cỏ lúa, đó cũng là một trong những nguyên
nhân làm mẹ tôi mắc rất nhiều bệnh sau này và ốm mất năm 66 tuổi.
Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016
Đình Làng Đế Hạ (Trích lời dẫn chương trình lễ khánh thành Đình)
Hai từ “Việc Làng” tưởng rằng chúng ta chỉ được gặp
lại trong những tác phẩm văn học của các nhà văn thế kỷ trước như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn
Công Hoan hay Ngô Tất Tố. “Ngày việc làng” xưa kia là ngày để nhân dân trong thôn cùng tụ
họp về đình làng tiến hành những sinh hoạt văn hoá, để giáo dục con cháu tỏ
lòng biết ơn những bậc tiền nhân đã có công khai sáng ra làng. Kế tục và phát
huy truyền thống tốt đẹp đó, hôm nay và mai sau ngày Ngày Việc Làng, nơi đình
làng; lại được nhân dân trong thôn gây dựng lại những gì tốt đẹp nhất. Những
người con xa quê luôn nhớ về Đình làng, ngày việc làng với những tấm lòng trân
trọng nhất.
ông Quách Trường Xuân một người con xa quê
lâu ngày đã viết trong bài thơ “Mừng xây Đình Làng” của mình:
“Đình đền cái tuổi mộng mơ
Vẫn trong tiềm thức đến giờ đâu phai
Bến sông kè đá dài dài
Cây đa bến nước nhớ hoài đâu quên”
Vẫn trong tiềm thức đến giờ đâu phai
Bến sông kè đá dài dài
Cây đa bến nước nhớ hoài đâu quên”
Xưa
kia; ngôi đình cổ kính, trang nghiêm nép mình dưới bóng đa râm mát che rợp một khoảng sân rộng
cùng với bến nước trong xanh là nơi để trai thanh nữ tú trong làng lấy làm nơi
sinh hoạt văn hoá văn nghệ trong những đêm trăng thanh gió mát. Mùa xuân đến, sân đình trở thành một sâu khấu hát chèo, đấu vật,
chọi gà, múa hát giao duyên…
Trong ca dao của nhân dân ta có câu:
Qua
đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu
Qua đó chúng ta thấy được Đình Làng của cha ông ta ngày xưa là một công trình mang nhiều dấu ấn đẹp đẽ trong lòng mỗi người dân Việt nam và cũng là một công trình to đẹp nguy nga nhất của mỗi làng quê Việt Nam.
Cũng chính từ sân đình Nho Phong đã hình thành truyền thống bóng chuyền có thương hiệu trong và ngoài huyện. Nơi đây cũng là cái nôi đào tạo các cầu thủ, trọng tài bóng chuyền giỏi cung cấp cho các đơn vị quân đội các trung tâm thể thao trên khắp mọi miền tổ quốc.
Cũng chính từ sân đình Nho Phong đã hình thành truyền thống bóng chuyền có thương hiệu trong và ngoài huyện. Nơi đây cũng là cái nôi đào tạo các cầu thủ, trọng tài bóng chuyền giỏi cung cấp cho các đơn vị quân đội các trung tâm thể thao trên khắp mọi miền tổ quốc.
Phải thừa nhận rằng cho
đến ngày hôm nay nhân dân thôn Nho Phong đã làm được một việc phi thường đó
là chỉ trong một thời gian ngắn ngôi
đình đồ sộ nguy nga đã được hoàn thành nhanh chóng.
Kính thưa quý vị!
Hoà chung với khí thế của cả nước
thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới gắn với việc
dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Đó là 1 chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa
ở khu dân cư” của ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động.
Nhằm phát huy, bảo tồn những nét thuần phong, mĩ tục của dân tộc Việt Nam nói chung và quê hương Nho Phong nói riêng. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta.
Nhằm phát huy, bảo tồn những nét thuần phong, mĩ tục của dân tộc Việt Nam nói chung và quê hương Nho Phong nói riêng. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta.
Được
sự cho phép của UBND xã Đức Long, sự nhất trí của cấp ủy chi bộ thôn Nho Phong,
hội người cao tuổi và toàn thể nhân dân. Hôm nay cán bộ và nhân dân thôn Nho
Phong rất phấn khởi, long trọng tổ chức “Lễ cắt băng khánh thành Đình Làng Nho
Phong”
.
Rất vinh dự cho bà con
trong thôn có Đại Đức thích Thanh Trụ - sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đế Hạ
ngập tràn kỷ niệm tuổi thơ. Sau bao năm miệt mài học hành nương nhờ cửa phật
đến nay đã thành đạo - Thầy đã đem hết tâm sức của mình để cùng với nhân dân
hoàn thành ước nguyện.
Xin trân trọng cảm ơn
Đại Đức Thích Thanh Trụ xin kính chúc
đại đức luôn mạnh khoẻ.
Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015
Thủ tục Cải táng bốc mộ
Bài 1. Sưu tầm: nguồn Phong thủy Huyền không học. 15/12/2015
Người xưa quan niệm số mệnh của
một con người không chỉ phụ thuộc vào bản thân người đó (tức giờ ngày, tháng,
năm sinh) mà còn chịu ảnh hưởng của âm phần và dương phần nên có câu “Nhất mộ,
nhì phòng, tam bát tự”.
Mấy chục năm người ta sống
trong căn nhà so với thiên thu an nghỉ dưới phần Mộ thì chỉ là một khoảng thời
gian quá ngắn ngủi, chẳng những thế nhà cửa, biệt thự đất cát là của phù du có
thể sang nhượng, đổi chác, mua bán chứ phần Mồ Mả, Lăng tẩm của Gia tiên thì
vĩnh viễn không thay đổi được.
Những
lý do cần cải táng
1 Người mất sau ba năm thì cải táng
2 Vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván mục nát hại đến thi hài
3 Vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng
4 Vì các thầy địa lý thấy chỗ mả vô cớ sụt đất, hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm lủng củng, kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại mả nên cải táng
5 Những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng. Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà đó, để cầu được hưởng dư khí.
1 Người mất sau ba năm thì cải táng
2 Vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván mục nát hại đến thi hài
3 Vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng
4 Vì các thầy địa lý thấy chỗ mả vô cớ sụt đất, hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm lủng củng, kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại mả nên cải táng
5 Những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng. Lại có người thấy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà đó, để cầu được hưởng dư khí.
Khi
nào không được cải táng
Trong khi cải táng, lại có ba điều không cải táng
1 là khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là long xà khí vật.
2 là khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết
3 là hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa là tốt,hoặc thi hài không tan hết, phải lập tức lấp lại ngay
Mả kết phát hoặc nở to ra
Con cháu đang ăn nên làm ra
Thì tuyệt đối không được cải táng.
Trong khi cải táng, lại có ba điều không cải táng
1 là khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là long xà khí vật.
2 là khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết
3 là hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa là tốt,hoặc thi hài không tan hết, phải lập tức lấp lại ngay
Mả kết phát hoặc nở to ra
Con cháu đang ăn nên làm ra
Thì tuyệt đối không được cải táng.
Chuẩn
bị cải táng
1 Trước hôm cải táng làm lễ cáo từ đường. Đến hôm cải táng, lại làm lễ khấn thổ công chỗ để mả mới
2 Nhờ người tinh thông, chuyên thạo công việc xem cẩn thận phần Mộ xấu tốt thế nào, thi hài đã tan hết chưa
3 Quyết định thời gian nào phù hợp nhất? Chọn ngày lành tháng tốt, hợp với công việc. Chọn ngày Hoàng đạo hoặc ngày bất tương, kỵ nhất là ngày trùng tang. Bốc mộ mà gặp ngày trùng tang, con cháu sẽ lụi bại
4 Chọn hướng tốt và xây hầm mộ, hướng mộ theo mệnh người mất, nếu an táng chung trong khuôn viên lăng mộ của dòng họ thì bên trên theo hướng chung, bên dưới có thể dùng 24 cung sơn hướng điều chỉnh
5 Chuẩn bị trong Quan ngoài Quách theo khả năng của gia đình + 1vuông vải điều + 20 tờ trang kim + 50 lít nước Vang ( ngũ vị ) + 50 lít nước sạch + 2 lít rượu + 10 khăn mặt mới + 2 bàn chải to + 1 bàn chải đánh răng + 3 chậu to mới + 50 kg củi + bạt che gió,mưa,ánh sáng
6 Nên làm ban đêm, mùa đông đây là thời điểm âm chi trong âm rất phù hợp công việc cải táng
7 Tuổi Nam kỵ tam hợp, tuổi Nữ kỵ tứ hành xung tránh mặt lúc mở nắp quan tài và khi hạ huyệt
8 Lễ xin Thần linh trước khi phá nấm,mở nắp,hạ huyệt.Sau khi xong lễ tạ chu đáo, chỗ huyệt mới và cũ đều rắc tiền vàng xuống đáy.
Bài 2
1 Trước hôm cải táng làm lễ cáo từ đường. Đến hôm cải táng, lại làm lễ khấn thổ công chỗ để mả mới
2 Nhờ người tinh thông, chuyên thạo công việc xem cẩn thận phần Mộ xấu tốt thế nào, thi hài đã tan hết chưa
3 Quyết định thời gian nào phù hợp nhất? Chọn ngày lành tháng tốt, hợp với công việc. Chọn ngày Hoàng đạo hoặc ngày bất tương, kỵ nhất là ngày trùng tang. Bốc mộ mà gặp ngày trùng tang, con cháu sẽ lụi bại
4 Chọn hướng tốt và xây hầm mộ, hướng mộ theo mệnh người mất, nếu an táng chung trong khuôn viên lăng mộ của dòng họ thì bên trên theo hướng chung, bên dưới có thể dùng 24 cung sơn hướng điều chỉnh
5 Chuẩn bị trong Quan ngoài Quách theo khả năng của gia đình + 1vuông vải điều + 20 tờ trang kim + 50 lít nước Vang ( ngũ vị ) + 50 lít nước sạch + 2 lít rượu + 10 khăn mặt mới + 2 bàn chải to + 1 bàn chải đánh răng + 3 chậu to mới + 50 kg củi + bạt che gió,mưa,ánh sáng
6 Nên làm ban đêm, mùa đông đây là thời điểm âm chi trong âm rất phù hợp công việc cải táng
7 Tuổi Nam kỵ tam hợp, tuổi Nữ kỵ tứ hành xung tránh mặt lúc mở nắp quan tài và khi hạ huyệt
8 Lễ xin Thần linh trước khi phá nấm,mở nắp,hạ huyệt.Sau khi xong lễ tạ chu đáo, chỗ huyệt mới và cũ đều rắc tiền vàng xuống đáy.
Bài 2
Sưu
tầm từ bài viết của chuyên gia phong thuỷ Cầm Văn Khuê: 16/12/2015
Nói tới Phong Thủy là bao gồm cả Dương Trạch và Âm Trạch. Dương
Trạch là đất dùng vào mục đích làm nhà ở, đình chùa miếu mạo, thôn xóm làng
mạc, thị trấn thành thị v.v… xây dựng các công trình của người sống. Dương
Trạch phải hài hòa với thiên nhiên, có môi trường tốt, không khí trong lành, có
ánh nắng, ánh trăng soi rọi khiến con người cảm thấy tươi vui hòa nhã, cơ thể
sảng khoái. Còn Âm Trạch là đất dùng để xây cất phần mộ cho người đã chết (còn
gọi là mồ mả), quan niệm của người xưa cho rằng nếu như tìm được một cuộc đất
tốt về Phong Thủy, có huyệt Chân Long để tiến hành “Thổ Táng” hài cốt của tổ
tiên thì con cháu sẽ được long khí của tổ tiên phù trợ, truyền được phúc cho
con cháu hậu duệ, có thể hiển đạt hoặc giàu sang, danh tiếng lừng lẫy. Còn như
táng vào hung địa thì ngược lại, con cháu sẽ gặp nhiều tai họa, bệnh tật v.v…
Âm
Trạch tốt về Phong Thủy tức là dựa trên hình và thế của đất đai để chọn được
một thế đất tốt, đầu mộ phải được tựa vào núi, chân mộ phải đạp ra sông, dòng
chảy của sông đó từ bên nào tới và tới đó có tụ nước lại hay không thì khí tới
đó gặp nước cũng mới tụ lại được, phương vị + hướng của cuộc đất đó có hợp với
mệnh cung của người chôn ở mộ đó hay không (lưu ý là
hướng của ngôi mộ được tính theo hướng của đầu người chôn trong mộ đó quay về
đâu, chứ không phải người chôn trong mộ đó nhìn về đâu. Rất nhiều người hay bị
nhầm lẫn ở điều này). Thuật
Phong Thủy gọi hành động chiêm đoán hình thế đất đai là “Tầm Long Tróc Mạch –
Tìm Rồng Bắt Mạch”, tức là kiến lập được thứ tự mạch lạc trong thế núi, thế đất
tự nhiên. Do thế núi, thế đất có địa hình thiên biến vạn hóa nên phải “Tầm” và
“Tróc” mới nắm được thứ tự mạch lạc của Long Mạch thì từ đó mới xác định được
“Huyệt” (hay còn gọi là “Điểm Huyệt”) và chôn cất mộ phần xuống đó được.
Hiện
nay, đa phần việc chôn cất đều có quy hoạch đưa vào nghĩa trang của thành phố,
xã, làng… nên chúng ta không quá cầu kỳ phải “Tầm Long Tróc Mạch” mà lúc đó
chúng ta nên quan tâm tới phương vị + hướng của miếng đất để chôn cất mồ mả. Âm
Trạch cũng giống như Dương Trạch đều xác định phương vị + hướng mộ hợp theo
mệnh cung của con người. Người Đông Tứ Mệnh thì hợp với hướng
+ phương vị Đông Tứ Trạch là: Khảm (Hướng Bắc), Chấn (Hướng Đông), Tốn
(Hướng Đông Nam ), Ly (Hướng Nam ) và
người Tây Tứ Mệnh thì hợp với hướng + phương vị Tây Tứ
Trạch là: Càn (Hướng Tây Bắc), Đoài (Hướng Tây), Khôn (hướng Tây Nam ), Cấn (Hướng Đông Bắc). Vậy
trước tiên ta phải xác định được người mất đó thuộc Đông Tứ Mệnh hay Tây
Tứ Mệnh mà tìm miếng đất có phương vị + hướng hợp với người mất đó.
Nhưng
hiện nay do sự quy hoạch của nghĩa trang, các phần mộ đều phải quay chung về
một hướng nhất định mà hướng đó không hợp với mệnh cung của người mất chôn ở
mộ, thì lúc này ta phải tính theo phần đặt Quách (nếu là sang cát – bốc mộ)
hoặc phần đặt quan tài (nếu là chôn một lần, không bốc mộ), khi đó ở phần đào
chìm phía dưới đất (hay còn gọi là Kim Âm) ta sẽ đặt quách hay quan tài chéo đi
bao nhiêu độ để được về hướng hợp với người chôn đó, khi đó phần mộ sẽ được
tính theo hướng của quách hay quan tài dù rằng ở phần nổi bên trên chúng ta vẫn
xây và đặt bia theo đúng hàng, đúng hướng của nghĩa trang.
Mặt
khác cho thêm phần kỹ càng hơn thì chúng ta còn có cách khi đặt quách hay quan
tài, ngoài việc đặt cho đúng hướng với phần mộ còn tính thêm “Phân Kim” chính
xác là bao nhiêu độ. Việc “Phân Kim” này đòi hỏi phải thật chính xác (vì có tất
cả 120 phân kim, mỗi phân kim tương ứng với 3”) và buộc phải là người có chuyên
môn, có đầy đủ La Bàn, La Kinh để tính cho chính xác. Sự “Phân Kim” cũng chỉ
căn cứ theo quy luật “tương sinh, tương khắc của Ngũ Hành và Can Chi”, tức là
nếu người mất chôn dưới mộ có can, chi, ngũ hành gì thì khi “Phân Kim” mộ nên
tính theo Can, Chi là các tam hợp, nhị hợp, tam ban, và Ngũ Hành là tương sinh
hoặc tỳ hòa cùng Ngũ Hành như nhau.
Đa số
người Phương Đông chúng ta đều tin rằng mỗi một địa phương đều có một vị Thổ
Thần, thường gọi là “Thổ Địa”. Sau khi chôn cất tiền nhân, người ta đều mong
rằng thần “Thổ Địa” sẽ đặc biệt chiếu cố cho tiền nhân của họ, cho nên khi cúng
tổ tiên ở mộ phần, họ cũng đồng thời cúng vị thần “Thổ Địa” ở đó. Vì vậy khi
muốn sửa sang lại mộ phần hoặc xây mới mộ phần ở địa phương đó họ đều phải xem
ngày, xem tuổi của người đứng động thổ. Việc xem tuổi cũng giống như xem tuổi
động thổ xây nhà Dương Trạch, xem họ có bị phạm Kim Lâu, Tam Tai, Hoang Ốc hay
không.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)