Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Mạn đàm về câu "Tam nam bất phú, tứ nữ bất bần"


Sưu tầm tác giả: Đặng Xuân Xuyến – Hà Nội

Mạn đàm về: Tam nam bất phú

Ngạn ngữ người Việt có câu: “Tam nam bất phú - Tứ nữ bất bần”
Hiểu đơn giản: Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.
Lý do:
Con trai thường hay lêu lổng, không chí thú làm ăn, cha mẹ lại phải chi phí những việc lớn cho các “quý tử” như: Học hành, cưới vợ, làm nhà... nên tốn hết tiền bạc của cha mẹ đã kiến tạo, vì thế mới nghèo.
Con gái thường chịu thương chịu khó, cha mẹ không phải chi phí các việc lớn như gia đình có con trai nên tiền của tích góp được mà trở nên giàu. (Ngày xưa con gái không được đi học, khi lấy chồng thì cơ bản gia đình chồng lo cho đám cưới (thông qua thách cưới của họ nhà gái)

Đấy là hiểu đơn giản là sinh nhiều (3) con trai sẽ nghèo nhưng theo thiển nghĩ của tôi thì cổ nhân chỉ mượn câu “tam nam bất phú” để ám chỉ điều “huyền bí và tối kỵ” của con số 3 huyền cơ trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nếu không đã không có câu “Tứ tử trình làng” để nói về sự vinh hoa phú quý của một gia đình khi sinh được bốn người con trai (?). Ngay trong câu “Tam nam bất phú / Tứ nữ bất bần” đã là một đôi câu đối hoàn chỉnh về sự huyền bí (sinh, tử, sang, hèn...) của các con số 3 và 4 trong tín điều của người Việt. Rất tiếc, tôi mò mẫm mà đoán vậy, chứ trình độ và sự hiểu biết của tôi chỉ a bờ tờ nên không thể hiểu để lý giải được ẩn ý của người xưa khi nhắc tới con số 3 trong “tam nam bất phú”, vì thế mới giãi bày lên đây để mong nhận được sự chỉ giáo quý báu của quý vị.
Trở lại với câu ngạn ngữ: Tam nam bất phú / Tứ nữ bât bần xem thực tế (chỉ có 3 trai hoặc 4 gái) có phải vậy không?
Thật sự rất khó đưa ra câu trả lời vì nếp sống bao đời của người Việt về đường con cái là phải “có nếp có tẻ”, phải có “thằng cu nối dõi” nên sẽ rất hiếm trường hợp nhà “chỉ có 3 thằng con trai” hoặc “chỉ có 4 đứa con gái”. Vì thế , “đối tượng” tra cứu cần được mở rộng: Nhà có 3 anh em trai + 1, 2 chị (em) gái và nhà có 4 chị em gái + 1, 2 anh (em) trai.
Vậy trong trường hợp: 3 TRAI + 1, 2 GÁI thì lời đúc kết của cổ nhân có đúng thế không?
Xin thưa: Không phải vậy! Thực tế, nhiều gia đình sinh 3 con trai mà kinh tế (bố mẹ) vẫn thuộc diện khá giả, có gia đình còn thuộc diện giàu “nứt đố đổ vách”, “tư sản hiện đại”. Sự giàu có đó còn kéo dài đến tận đời con, đời cháu sau này...
Vậy nên hiểu câu: “Tam nam bất phú” như thế nào? Theo thiển ý của người viết, chữ phú ở đây không nên hiểu theo nghĩa chỉ sự giàu có mà hiểu theo nghĩa chỉ sự phú quý thì mới thấy được “ẩn ý” mà cổ nhân đúc kết.
Qua kiểm chứng những gia đình có 3 anh em trai (chỉ 3 anh em trai rất hiếm gặp, mà cơ bản có thêm chị em gái) tôi thấy thường sảy ra (ít nhất là 2/3) các tình huống:
  1. Bất hòa trong gia đình, kể cả sau này khi 3 anh em trai đã yên bề gia thất.
  2. Tai họa sảy ra cho 1 trong 3 người con trai: Nặng thì có người chết sớm (thường là chết trẻ, chưa có con cái), nhẹ thì bị tàn tật như thối tai, què chân hoặc những chứng bệnh nan y khó chữa..
  3. Đường hôn nhân của 1 trong 3 anh em trai gặp phải trắc trở, thiếu may mắn, không được trọn vẹn.
Có lẽ, đây mới là điều mà cổ nhân đúc kết: Nhà có 3 anh em trai thì khó có được sự phú quý, phúc thọ.
Tôi đã vào google để tra cứu những “liên quan” về câu ngạn ngữ TAM NAM BẤT PHÚ nhưng rất tiếc, kể cả làm thế nào để cải “tam nam bất phú” cũng không tìm được nên đành mạo muội đưa ra đề xuất như sau:
  1. Ba anh em trai nên sống xa nhau (về khoảng cách địa lý), càng xa càng tốt.
  2. Bố mẹ nên nhận một người con trai làm nghĩa tử, hoặc nếu bố mẹ khuất bóng rồi thì ba anh em cùng nhận thêm một anh hoặc em trai kết nghĩa.
  3. Nên làm con nuôi dòng họ khác (gia đình nghĩa phụ phải có con trai) để tránh cảnh huynh đệ tương tàn và đem lại may mắn cho bản thân.
  4. Lấy đức để cải số.
Vài dòng tản mạn về câu thành ngữ: TAM NAM BẤT PHÚ, hy vọng sẽ nhận được chỉ giáo của mọi người để câu thành ngữ TAM NAM BẤT PHÚ không còn là nỗi ám ảnh, hãi sợ của nhân gian..
***
Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Ôn lại kỷ niệm gia đình

Chuẩn bị cho ngày mai làm lễ thất thất lai tuần (49 ngày) cho bố tôi. Đêm nay chị em con cháu người nằm giường, người nằm ghế, số còn lại dải chiếu nằm nền nhà. Các câu chuyện của gia đình từ những năm 1965 trở lại đây bắt đầu được ôn lại.
Bắt đầu là chị cả Lưu kể những kỷ niệm với Mẹ. Chuyện đi củi thuyền ban đêm từ 2 giờ sáng, hai mẹ con một thuyền chèo lên tới gần giáp ranh giữa tỉnh hòa bình và ninh bình cách nhà khoảng 7 km đường thủy. Nước lụt ngập mênh mông hai mẹ con bị lệch hướng lên cánh nghĩa địa. Cả hai mẹ con đều sợ nhưng mẹ Thám sốc lại tinh thần cho cả hai mẹ con đó là vừa chèo thuyền bằng chân vừa ngâm thơ Tố Hữu, rồi hát chèo.... sau đó hai mẹ con nhìn xem chỗ nào có ánh đèn dầu thì chèo tới. Nhưng 3-4 giờ sáng thì thuyền chài cũng tắt đèn đi ngủ hết. Loanh quanh đến gần sáng thì cũng phát hiện ra hướng đi của mình. Chị cả nói lúc đó chị hơn 10 tuổi, cũng rất sợ nhưng đành phải liều. May mà bấy giờ những năm 70 chưa có mộ xây như bây giờ, nếu không thuyền của hai mẹ con chắc chắn xô vào mộ thủng và đắm. Thời đó dân làng tôi có phong trào đi củi thuyền khi mùa lũ đến. Chỗ kiếm củi cách nhà từ 10-20km đường thủy, vì thế phải đi từ 2-3 giờ sáng thì tối mới về đến nhà.
Tiếp sau đó là các câu chuyện của chị hai, của tôi, rồi của cô út. Nhiều lúc chị em và các cháu cười phá lên, song cũng có lúc tự nhiên im bặt rồi chỗ này chị cả, chị hai sụt sịt chỗ kia cô út nằm trên ghế nghẹn ngào. Nước mắt tôi cứ chảy hết dòng này đến dòng khác.
Tôi cũng đóng góp hai mẩu chuyện với mẹ.
 Câu chuyện thứ nhất là bốc phân trâu trên đường cái cho mẹ trồng khoai. Đó là lúc tôi chừng 8-10 tuổi, hai mẹ con đi trồng khoai lang ở mảnh ruộng "cột km" đó là cột mốc km báo tt Nho Quan 5km cạnh đường 477 bây giờ cách nhà 1 km. Đang trồng thì hết phân chuồng, nếu để mẹ về gánh thì lên đến nơi rất là muộn, vì thế tôi bảo mẹ để con đi kiếm phân cho. Thế là tôi quẩy quang gánh lên đường cái để cho nhanh tôi lấy hai tay bốc những bãi phân trâu. Có những bãi trâu vừa thải ra còn đang nóng hổi, có những bãi lâu ngày đã có ròi, bọ tôi bốc tất. Thời bấy giờ khách đi đường chỉ toàn có người đi xe đạp, họ thấy tôi làm việc trên ai cũng khen sao có thằng bé chịu khó thế. Đó là một trong những việc thể hiện lúc còn bé tôi là một thằng bé rất nhanh nhẹn, dễ sai. Bà Nội gọi tôi là thằng "nhẹ mũi", Bà ví như con nghé dễ dắt.
Câu chuyện thứ hai: Lúc còn bé 3 anh em trai hay trêu chọc nhau, đánh nhau. Một hôm trêu nhau trò đánh rắm rồi bốc bỏ mũi nhau, sau đó đùa quá chớn dẫn đến đánh chửi nhau. Bố bắt 3 anh em nằm sấp xuống nền nhà, Bố cầm cái roi rất to rồi hò hét, lượn qua lượn lại rất lâu cuối cùng mới vụt mỗi con một roi thật đau. Về sau mẹ kể lại là mẹ đứng ngoài cười vì biết tính bố.
Tôi có rất nhiều kỷ niệm với Bố, vì sau khi Bố về hưu 1982 bố con dở nghề thả đó tôm ngoài sông, tối đến phải ngủ thuyền trên sông để coi đó. Vui có buồn có. Những lúc trăng thanh gió mát thì thật là thích, nhưng những đêm mưa gió, rét mướt thì thật là khổ. Nhớ nhất là trận mưa đầu mùa ngày 17/3/âm lịch khoảng năm 1985  -1988 , hôm đó trời sấm sét, mưa rất to và lâu. Hai bố con sốt ruột lo lắng vì sợ sét và sợ nước nhiều quá đắm thuyền, cứ thỉnh thoảng lại dậy tát nước thuyền. Ngày thường hai bố con tâm sự rất nhiều chuyện trên đời. Những kỷ niệm đó đối với tôi thật vô cùng quý giá.

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Danh sách các cụ đã mất (4 dời)

STT Họ và tên Năm sinh NS Âm lịch Mộ phần táng tại Ghi chú
1 Cụ cố ông: Quách Văn Nhu 1850 - 1860 Không rõ Mả ong Sinh khoảng: 1860
2 Cụ cố bà: Lê Thị Trọng Khoảng: 1860 Không rõ Đồng Trên không rõ mộ phần
3 Cụ ông: Quách Văn Mưu 1899 Kỷ Hợi Đồng Trên  
4 Cụ bà cả: Lưu Thị Kiệm Khoảng 1900 Không rõ Đồng Trên  
5 Cụ bà hai: Lý Thị Mùng 1905 Ất Tỵ Đồng Trên  
6 Cụ bà: Quách Thị Xương 1875-1880 Không rõ Đồng Trên  
7 Ông : Quách Văn Tạ 1934 Giáp Tuất Đồi Đất  
8 Bà: Đỗ Thị Thám 1935 Ất Hợi Mả Đào  
Tổng số:  8 cụ
Đức Long, ngày 01/5/2017
NGƯỜI LẬP DANH SÁCH
     Quách Văn Nguyện

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Thơ học trò cũ viếng bố


Người ta ví:  Thầy giáo là người chở đò còn học trò là khách.
Thế là Thầy đã đi rồi
Con đò để mặc dòng đời mênh mang
Thời gian cuồn cuộn thời gian
Cứ chào chào mãi có màng gì đâu
Học trò lớp trước lớp sau
Từ một lớp cứ nối nhau qua đò
Thời gian cứ chảy bơ phờ
Con đò Thầy vẫn đón đưa hàng ngày
Công cha nghĩa mẹ ơn Thầy
Chúng con tạc dạ không ngày nào quên
Chắc rằng trên cõi mênh mang
Cụ Quýnh đang thết rượu ông với trò

16h ngày 7 tháng 4 năm Đinh Dậu
Vũ Hữu Đích
Học trò lớp 2 -Đinh Phú Nhiêu  - 1958
Có vài lời tiễn Thầy giáo cũ.


                             Các ông: Trần Văn Chiêm, Vũ Hữu Đích, Lê Văn Thái học trò lớp 2 của Bố từ năm 1958 tại Đình Phú Nhiêu đọc thơ viếng Thầy giáo cũ.



Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Lâm Giang Tiên - Tam Quốc Diễn Nghĩa

Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông 
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng 
Thịnh suy, thành bại theo dòng nước 
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không 
Núi xanh nguyên vẹn cũ 
Bao độ ánh chiều hồng 
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi 
Vốn đã quen gió mát trăng trong 
Một vò rượu nếp vui bạn cũ 
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng.


Bài thơ hay quá!

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Thơ Xuân 2017

MẸ! 

Mỗi năm tết đến xuân về
Ngậm ngùi nhớ Mẹ đã về bên kia
Mẹ tôi - Người Mẹ kính yêu
Lam lũ vất vả ruộng đồng sớm hôm
Bèo rau, cám bã, tép tôm
Nấu rượu, nuôi lợn ôm am đủ điều
Bom Mỹ  - vớt cá quá liều (1)
Thuốc sâu chưa hết - đã liều lội ngay (2)
Đồng cao, đồng trũng, Mẹ hay
Chỗ nào hoang hoá ra tay cuốc cào
Rau, cà, khoai, sắn bốn mùa
Nhon bòn chắt bóp mệt nhoài vẫn tham
Tất cả dành hết chồng con
Chồng công tác tốt, con ngoan học hành
Đến khi con chớm trưởng thành
Mẹ mang bệnh tật rồi thời quy tiên
Ơn mẹ nước biển mênh mông
Con luôn ghi nhớ, in sâu trong lòng./.
                                                                     
                                         Đức Long, 23h30’ ngày 3/2/2017
                                                                              Quách Văn Nguyện
Chú giải:
       Bài thơ tôi viết về Mẹ tôi là Đỗ Thị Thám  với tất cả tấm lòng thành kính về Mẹ
      Mẹ tôi Sinh năm 1935 tại thôn Bồ Đình, xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
      Tạ thế: 19.4.2001.
       Bài thơ tôi gửi tham gia dự thi hội thơ xuân ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh Ninh Bình năm 2017.
(1)  Vào cuối năm 1971 Đế Quốc Mỹ đem bom bắn phá Miền Bắc trong đó có Cầu Đế gần nhà tôi. Cá ở dưới sông chết bom nổi rất nhiều. Mẹ tôi lúc đó đang mang thai tôi mặc dù tất cả dân làng không ai dám ra vớt cá thì chỉ có mình mẹ tôi với chiếc thuyền câu bé lao ra vớt cá trong giữa hai loạt bom của Mỹ. Sau này dân làng nói mẹ tôi là người liều nhất làng. Khi tôi lớn tôi hỏi mẹ thì mẹ bảo do mẹ ở gần cầu Đế chỗ Mỹ hay ném bom nên nắm được rõ quy luật giữa hai loạt bom của máy bay Mỹ thì mẹ mới dám liều như vậy.
(2)  Ruộng lúa vừa phun thuốc sâu xong đáng lẽ phải để một thời gian nhất định rồi mới được lội xuống làm cỏ lúa. Nhưng mẹ tôi một phần do coi thường là có sức khoẻ, phần nữa là do sốt sắng với công việc nên vẫn lội xuống ruộng ngay để làm cỏ lúa, đó cũng là một trong những nguyên nhân làm mẹ tôi mắc rất nhiều bệnh sau này và ốm mất năm 66 tuổi.


Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

Đình Làng Đế Hạ (Trích lời dẫn chương trình lễ khánh thành Đình)

Kính thưa các vị đại biểu khách quý!

Hai từ “Việc Làng” tưởng rằng chúng ta chỉ được gặp lại trong những tác phẩm văn học của các nhà văn  thế kỷ trước như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan hay Ngô Tất Tố. “Ngày việc làng”  xưa kia là ngày để nhân dân trong thôn cùng tụ họp về đình làng tiến hành những sinh hoạt văn hoá, để giáo dục con cháu tỏ lòng biết ơn những bậc tiền nhân đã có công khai sáng ra làng. Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp đó, hôm nay và mai sau ngày Ngày Việc Làng, nơi đình làng; lại được nhân dân trong thôn gây dựng lại những gì tốt đẹp nhất. Những người con xa quê luôn nhớ về Đình làng, ngày việc làng với những tấm lòng trân trọng nhất.
ông Quách Trường Xuân một người con xa quê lâu ngày đã viết trong bài thơ “Mừng xây Đình Làng” của mình:
“Đình đền cái tuổi mộng mơ
Vẫn trong tiềm thức đến giờ đâu phai
Bến sông kè đá dài dài
Cây đa bến nước nhớ hoài đâu quên”

Xưa kia; ngôi đình cổ kính, trang nghiêm nép mình dưới bóng đa râm mát che rợp một khoảng sân rộng cùng với bến nước trong xanh là nơi để trai thanh nữ tú trong làng lấy làm nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ trong những đêm trăng thanh gió mát. Mùa xuân đến, sân đình trở thành một sâu khấu hát chèo, đấu vật, chọi gà, múa hát giao duyên…
 Trong ca dao của nhân dân ta có câu:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu
Qua đó chúng ta thấy được Đình Làng của cha ông ta ngày xưa là một công trình mang nhiều dấu ấn đẹp đẽ trong lòng mỗi người dân Việt nam và cũng là một công trình to đẹp nguy nga nhất của mỗi làng quê Việt Nam.
Cũng chính từ sân đình Nho Phong đã hình thành truyền thống bóng chuyền có thương hiệu trong và ngoài huyện. Nơi đây cũng là cái nôi đào tạo các cầu thủ, trọng tài bóng chuyền giỏi cung cấp cho các đơn vị quân đội các trung tâm thể thao trên khắp mọi miền tổ quốc.
Phải thừa nhận rằng cho đến ngày hôm nay nhân dân thôn Nho Phong đã làm được một việc phi thường đó là  chỉ trong một thời gian ngắn ngôi đình đồ sộ nguy nga đã được hoàn thành nhanh chóng.

Kính thưa quý vị!
          Hoà chung với khí thế của cả nước thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới gắn với việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp Đó là 1 chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” của ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động. 
Nhằm phát huy, bảo tồn những nét thuần phong, mĩ tục của dân tộc Việt Nam nói chung và quê hương Nho Phong nói riêng. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta.
          Được sự cho phép của UBND xã Đức Long, sự nhất trí của cấp ủy chi bộ thôn Nho Phong, hội người cao tuổi và toàn thể nhân dân. Hôm nay cán bộ và nhân dân thôn Nho Phong rất phấn khởi, long trọng tổ chức “Lễ cắt băng khánh thành Đình Làng Nho Phong”
 

 
.
Rất vinh dự cho bà con trong thôn có Đại Đức thích Thanh Trụ - sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đế Hạ ngập tràn kỷ niệm tuổi thơ. Sau bao năm miệt mài học hành nương nhờ cửa phật đến nay đã thành đạo - Thầy đã đem hết tâm sức của mình để cùng với nhân dân hoàn thành ước nguyện.

Xin trân trọng cảm ơn Đại Đức Thích Thanh Trụ  xin kính chúc đại đức luôn mạnh khoẻ.